1. [THÔNG BÁO] TẤT CẢ NHỮNG BÀI VIẾT ĐĂNG KHÔNG ĐÚNG CHUYÊN MỤC SẼ BỊ BAN NIK VÀ XÓA TOÀN BỘ POST, CÁC BÀI VIẾT NẾU KHÔNG CÓ BOX PHÙ HỢP ĐỂ POST THÌ CÓ THỂ POST VÀO 2 CHUYÊN MỤC CUỐI DIỄN ĐÀN LÀ "BACKLINK FREE" VÀ "CÁC VẤN ĐỀ KHÁC"
    Dismiss Notice
  2. Dismiss Notice

Ưu nhược điểm cọc bê tông cốt thép

Thảo luận trong 'Linh tinh' bắt đầu bởi makeupbetong, 3 Tháng mười một 2015.

    Chia sẻ trang này

  1. makeupbetong
    Offline

    makeupbetong

    Bài viết:
    69
    Được thích:
    0
    Cọc bê tông DUL ở dạng cọc tròn PC spun pile (ít khi sử dụng chữ centrifugal) thường chỉ có ở Nhật hoặc Hàn, châu Âu không phổ biến, châu Âu có sử dụng cọc hình vuông, tam giác DUL.

    Ở nước ta hiện nay có 1 số nhà máy ép cọc bê tông (Phan Vũ, BT620, BCC, Phú Mỹ) có thể chế tạo được cả 2 loại cọc này và đang thương mại hóa dần dần cả 2 loại nhưng chủ yếu vẫn là cọc dạng tròn. Vậy cùng liệt kê những ưu nhược điểm cọc bê tông cốt thép.


    [​IMG]

    + Ưu điểm về mặt giá thành của cọc bê tông cốt thép so với cọc RC không lớn lắm, vì bê tông vốn dĩ đắt hơn (mác cao), cốt thép PC bar (có cường độ fy = 14000 – 16000 kg/cm2) phải nhập khẩu từ Indo, Thailand, Mã Lai hoặc Hàn, Nhật, giá đắt hơn gấp đôi và lại phải mua dự trữ vì không thể chủ động thời gian.
    + Ưu điểm vượt trội của nó chính là tiến độ. Nếu đúc cọc thường hay cọc vuông UDL thì không thể áp dụng được kỹ thuật accelerated curing (dưỡng hộ nhanh). Hấp hơi nước chừng 2-3h là nó đã cứng ngắc (đạt mác) lên rồi bởi vậy có thể chở ngay ra công trường ngay trong ngày hôm sau.
    + Có 2 dạng cọc PS spun pile đó là PC và PHC, cọc PC bao gồm công đoạn dưỡng hộ hơi nước ở áp suất thường (với t=70-80oC), còn bê tông thì chỉ sử dụng phụ gia loại thông dụng (ở VN là Sikament R4, Sikament FF khi cần), xi măng PC40 (ATSM C150 type I) mác xi măng chỉ 400 kg/cm2) nhưng nhờ được ly tâm lèn chặt mà sau khi dưỡng hộ nhiệt thì có thể đạt 700kg/cm2 1 cách dễ dàng. Nhưng để cải tiến được hơn nữa thì người ta sử dụng cọc PHC hoàn toàn giống với cọc PC chỉ riêng công đoạn dưỡng hộ nhiệt thì người ta mới sử dụng dưỡng hộ nhiệt+áp bằng cách cho vào autoclave để được luôn 1 mẻ cọc lớn chỉ trong khoảng 1h đồng hồ, cho lên xe ra công trường luôn. Nhưng cách này rất tốn chi phí đầu tư cho autoclave quá, Việt Nam không áp dụng được (đội giá thành), mà ta chỉ dùng phụ gia gốc silicafume để kích nhanh quá trình gia tăng cường độ sớm khi dưỡng hộ nhiệt ở áp suất bình thường (dùng luôn hệ thống thiết bị sản xuất cọc PC như cũ), nhưng để bỏ tiền ra mua phụ gia mà chủ đầu tư không yêu cầu tiến độ cấp bách (như kiểu tây) thì chẳng bỏ bèn gì vì lại vô tình làm tăng giá thành nên chỉ có cọc PC là đang thông dụng mà thôi.
    Nhờ vào kỹ thuật quay ly tâm (spinning) mà lớp bê tông dàn thành vỏ 2 bên vừa đủ cứng (chiều dày thành vỏ trung bình là 50-70cm tuỳ đường kính cọc. Điều này sẽ giúp cho tiết kiệm vật liệu (vật chuyển, đóng cọc nhẹ nhàng hơn).

    Sau khi bê tông đã đạt được cường độ (ngay sau khi ra khỏi bể dưỡng hộ) thì nên tiến hành xả khuôn, tức là để cho lực căng rút của thanh thép vốn tác dụng vào khuôn chuyển vào cho bê tông (stress inducement). Sau quá trình này thì cọc hoàn toàn có thể được chở ngay ra công trường.

    Khả năng chịu nén của cọc: lớn hơn cọc bê tông thường 1 ít, lý do là mác bê tông cao hơn cọc thường nhiều, nên cho dù bị trừ mất đi 1 lượng ứng suất nén trước do thanh thép gây ra nó vẫn còn lớn. Nhưng quan trọng là khả năng chịu uốn cực cao, điều này là rất quan trọng hơn đối với cọc nếu ta muốn có cọc dài để có thể giảm mối nối, muốn có cọc nhẹ để dễ thi công.

    Sở trường của cọc này là ... (Xem chi tiết tại: Ưu nhược điểm cọc bê tông cốt thép)
     
>

Chia sẻ trang này